Hiện nay, với nền y khoa ngày càng hiện đại và tiến bộ, bệnh ung thư cổ tử cung có thể điều trị khỏi được nếu phát hiện sớm. Càng được phát hiện sớm thì tỷ lệ chữa khỏi (bệnh nhân sống khỏe mạnh trên 5 năm) và khả năng bảo tồn chức năng sinh sản càng cao. Còn nếu bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn thì sẽ rất khó điều trị.

Tùy theo từng giai đoạn của ung thư cổ tử cung mà khả năng điều trị thành công sẽ thay đổi, cụ thể như sau:

  • Giai đoạn tại chỗ (insitu): Bệnh nhân phát hiện bệnh sớm và được các chuyên gia hàng đầu về phụ khoa và ung bướu điều trị tích cực, lúc này cơ hội sống trên 5 năm có thể lên đến 96%.
  • Giai đoạn 1: Tỷ lệ sống trên 5 năm giảm còn 80-90%.
  • Giai đoạn 2: Khả năng sống sót trên 5 năm còn 50-60%.
  • Giai đoạn 3: Chỉ còn 25-35% cơ hội để bệnh nhân sống trên 5 năm.
  • Giai đoạn 4: Con số này chỉ còn dưới 15%.
  • Trên 90% bệnh khi tái phát di căn xa sẽ tử vong trong vòng 5 năm.

Các phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung

Hiện nay, có 3 phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung hiệu quả và phổ biến nhất:

A. Phẫu thuật điều trị ung thư cổ tử cung

Phẫu thuật được coi là phương pháp chính trong điều trị ung thư cổ tử cung. Nếu khối u có kích thước lớn bệnh nhân có thể được hóa trị hoặc xạ trị để thu nhỏ kích thước khối u trước khi phẫu thuật. Trong một số trường hợp bệnh nhân có thể phải thực hiện hóa trị hoặc xạ trị sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại.

Một số hình thức phẫu thuật có thể làm ảnh hưởng tới khả năng mang thai vì vậy bệnh nhân cần thảo luận cẩn thận với nhóm bác sĩ điều trị trước khi thực hiện phẫu thuật.

i.  Các phương pháp phẫu thuật bảo tồn khả năng sinh sản

Trong trường hợp ung thư cổ tử cung được phát hiện ở giai đoạn sớm, khối u còn ở dạng khu trú, chưa xâm lấn qua lớp tế bào đáy của biểu mô trên bề mặt tử cung và chưa di căn tới các hạch bạch huyết thì bác sĩ có thể chỉ định một trong các phẫu thuật sau để loại bỏ khối u.

  • Khoét chóp cổ tử cung: bác sĩ dùng dao lazer hoặc LEEP để cắt phần tử cung có khối u theo hình chóp nón.
  • Cắt bằng dây điện LEEP hoặc tia laser: dùng dòng điện truyền qua một vòng kim loại hoặc chùm tia laser cường độ cao để cắt bỏ phần cổ tử cung có khối u.
  • Phẫu thuật lạnh: bác sĩ làm đông lạnh các tế bào ung thư bằng nitơ lỏng để tiêu diệt chúng.

ii.  Các phương pháp phẫu thuật không bảo tồn khả năng sinh sản

Nếu ung thư cổ tử cung được phát hiện ở giai đoạn đã lan rộng ở lớp biểu mô cổ tử cung và tới các hạch bạch huyết hoặc các mô lân cận hoặc đã di căn tới các cơ quan khác của cơ thể thì bác sĩ sẽ phải tiến hành phẫu thuật triệt để hơn là cắt bỏ tử cung hoặc thậm chí là một hoặc tất cả các cơ quan trong vùng chậu bao gồm:

  • Phẫu thuật cắt tử cung. Bác sĩ sẽ chỉ cắt bỏ cổ tử cung, thân tử cung bằng mổ nội soi hoặc mổ mở ổ bụng. Bệnh nhân có thể về nhà 3-5 ngày sau phẫu thuật, mổ nội soi có thể phục hồi nhanh hơn. Tuy nhiên phương pháp này chỉ áp dụng nếu không phát hiện thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy khối u đã xâm lấn tới cách hạch và cơ quan lân cận.
  • Phẫu thuật cắt tử cung triệt để: tùy theo mức độ lan rộng bác sĩ sẽ có thể phải cắt cả cổ, thân tử cung và một số vùng lân cận như buồng trứng, ống dẫn trứng, một phần âm đạo, nạo vét hạch chậu
  • Phẫu thuật cắt bỏ cơ quan vùng chậu: bệnh nhân phải cắt bỏ toàn bộ tử cung, âm đạo, buồng trứng, bàng quang, trực tràng vì ung thư đã lan rộng ra vùng bụng dưới và vùng chậu. Phương pháp này ít được sử dụng vì bệnh nhân phải tạo âm đạo và bàng quang nhân tạo, sức khỏe cũng bị ảnh hưởng lớn.

B.   Điều trị ung thư cổ tử cung bằng hóa trị

Đây là phương pháp tiêu diệt tế bào ung thư bằng hóa chất (dạng uống hoặc truyền tĩnh mạch). Hóa chất điều trị ung thư có thể thâm nhập vào khắp các cơ quan trong cơ thể và tiêu diệt các tế bào ung thư.

Hóa trị thường được chỉ định cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn (giai đoạn IV) khi khối u đã di căn tới các cơ quan khác nên phẫu thuật và xạ trị không phát huy hiệu quả. Bác sĩ cũng có thể chỉ định hóa trị kết hợp xạ trị để tăng hiệu quả điều trị cho bệnh nhân giai đoạn sớm hơn trước hoặc sau phẫu thuật.

Điều trị bằng hóa trị có thể khiến bệnh nhân gặp một số tác dụng phụ như rụng tóc, tiêu chảy, nhiệt miệng, mệt mỏi, nôn, mãn kinh sớm…

C.    Điều trị ung thư cổ tử cung bằng xạ trị

Xạ trị là phương pháp sử dụng chùm tia X bức xạ năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư và ức chế sự phát triển của chúng. 2 phương pháp xạ trị được dùng để điều trị ung thư cổ tử cung bao gồm:

Xạ trị bằng máy chiếu xạ đặt bên trong cơ thể, máy chiếu xạ này rất nhỏ và được đặt gần tử cung để tiêu diệt tế bào ung thư. Phương pháp xạ trị này được bác sĩ chỉ định cho bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm.

Xạ trị bằng máy chiếu xạ đặt ngoài cơ thể, bệnh nhân được chiếu xạ vùng xung quanh tử cung theo liệu trình 1 ngày 1 lần, 5 ngày/tuần trong thời gian từ 5-6 tuần.

Trong trường hợp khối u đã bắt đầu xâm lấn tới các hạch và cơ quan quanh vùng chậu thì bệnh nhân thường phải kết hợp hai phương pháp xạ trị trên để kiểm soát khối u. Khi điều trị ung thư cổ tử cung bằng xạ trị, bệnh nhân có thể gặp một số tác dụng phụ như đau bụng dưới, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau khi quan hệ, bàng quang bị kích thích.

D.   Các phương pháp điều trị khác

Ngoài 3 phương pháp điều trị phổ biến nêu trên, hiện nay còn có các phương pháp điều trị mới như liệu pháp điều trị trúng đích, liệu pháp miễn dịch. Các phương pháp này thường ít tác dụng phụ hơn nhưng chi phí cao và rất chỉ một số bệnh nhân đủ điều kiện lâm sàng mới có thể điều trị.

  • Liệu pháp điều trị trúng đích: thuốc đích bevacizumab (Avastin) có tác dụng ngăn cản sự hình thành các mạch máu mới. Thuốc có thể làm chậm sự xâm lấn của ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến triển và thường được dùng kết hợp với xạ trị.

Liệu pháp miễn dịch: Pembrolizumab (Keytruda) có thể được tiêm tĩnh mạch 3 tuần một lần cho bệnh nhân không đáp ứng với xạ trị và hóa trị.

Bạn quan tâm đến việc tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung?!

Đừng e ngại, hãy để lại thông tin hoặc gọi đến số Hotline 0904 334 841 để nhận tư vấn miễn phí từ các chuyên viên và Bác Sĩ của BV Hoàn Mỹ Sài Gòn nhé.